Nguyên nhân, biện pháp đề phòng và các phương pháp điều trị bệnh cận thị

Nguyên nhân, biện pháp đề phòng và các phương pháp điều trị bệnh cận thị

Hiện nay tình trạng trẻ em bị cận thị đang ngày càng phổ biến, nguyên nhân gây ra thường do yếu tố chủ quan của các bậc phụ huynh ít quan tâm tới tình trạng bệnh lý cũng như trong vấn đề sinh hoạt hàng ngày của mắt: Do tiếp xúc với thiết bị điện tử quá nhiều, ngồi học cúi quá sát vào sách vở, đèn học gây loá mắt trong thời gian dài….

Dưới đây Tomhouse xin tổng hợp một số nguyên nhân, biểu hiện và cách phòng tránh bệnh cận thị ở trẻ em để quý vị tham khảo :

1: Cận thị là gì? Nguyên nhân bị cận thị

1.1: Cận thị là gì ?

Cận thị là một tật khúc xạ gây rối loạn chức năng thị giác, do nhãn cầu bị dài ra, thay vì tia sáng hội tụ tại đúng võng mạc thì nó lại hội tụ ở trước võng mạc khiến trẻ bị cận thị chỉ có thể nhìn được những vật gần mắt mà không nhìn rõ vật ở xa.

Tình trạng cận thị hiện nay ở Việt Nam: 

Hiện nay, tỷ lệ học sinh các cấp mắc tật cận thị ngày càng tăng, điều này khiến các em gặp không ít bất tiện trong việc học tập và sinh hoạt. Theo thống kê của Bệnh viện Mắt Trung ương năm 2013, cả nước ta có gần 3 triệu trẻ em ở độ tuổi 0-15 tuổi bị mắc các tật khúc xạ cần được chỉnh kính. Trong đó, số trẻ em bị cận thị lên đến mức đáng báo động khi chiếm tới 2/3 tỷ lệ và chủ yếu tập trung ở khu đô thị với tỷ lệ là 30 – 35%. Theo: Dantri.com.vn

1.2: Nguyên nhân của bệnh cận thị ?

Cận thị xảy ra khi trục nhãn cầu quá dài, liên quan đến công suất hội tụ của giác mạc và thể thủy tinh của mắt, khiến những tia sáng đi vào mắt hội tụ tại một điểm trước võng mạc thay vì đúng ngay tại võng mạc. Bệnh cũng có thể xảy ra do giác mạc và/hoặc thể thủy tinh quá cong so với nhãn cầu. Trong một vài trường hợp, cận thị còn do sự kết hợp của các nguyên nhân trên.

Hiện nay có 3 nguyên nhân chính dẫn tới cận thị :

  • Nguyên nhân khiến đa số người bị cận thị hay mắc phải đó là do việc học tập và sinh hoạt thiếu khoa học.  Khi đến trường các em học với cường độ cao, môi trường ánh sáng không đảm bảo tư thế ngồi học, bàn ghế không phù hợp và đọc sách ở cự ly gần trong thời gian dài.

Khi về nhà các em thường xem ti vi, chơi máy vi tính nhiều giờ liên tục với cự ly rất gần hoặc đọc sách trong tư thế nằm ngửa, vì thời gian sinh hoạt kéo dài nên giấc ngủ bị thu ngắn lại, điều này khiến cho mức độ cận thị tiến triển nhanh hơn đặc biệt là lứa tuổi 7-9 tuổi và 12 – 14 tuổi.

  •  Do trẻ sinh thiếu tháng và trẻ sinh ra trọng lượng quá nhẹ là yếu tố khiến cho trẻ bị cận thị và hầu hết trẻ sinh ra với cơ thể dưới 2.5 kg thì đến tuổi thiếu niên đều bị cận thị.
  • Khi bố mẹ bị cận thị thì rất dễ di truyền cho con cái, mức độ di truyền liên quan đến mức độ cận thị của bố mẹ. Thông thường bố mẹ cận thị từ 6 diop trở lên thì mức độ di truyền là 100%.

Cận thị thoái hóa

Trong hầu hết các trường hợp, cận thị chỉ đơn giản là chút bất tiện và ít (hoặc không) gây nguy hiểm đến sức khoẻ của mắt. Nhưng thỉnh thoảng bệnh có thể tiến triển và trầm trọng hơn, được xem như dấu hiệu thoái hóa. Cận thị thoái hóa (còn được gọi là cận thị bệnh lý) là một tình trạng tương đối hiếm được cho là di truyền và thường bắt đầu từ khi còn nhỏ. Trong cận thị ác tính, sự kéo dài của trục nhãn cầu có thể diễn ra rất nhanh, dẫn đến tăng độ nhanh và mất thị lực. Người bệnh có nguy cơ bị bong võng mạc và những bệnh lý khác bao gồm xuất huyết mắt do sự phát triển bất thường của các tân mạch.

Cận thị thoái hóa cũng có thể làm tăng nguy cơ đục thủy tinh thể.

Phẫu thuật điều trị biến chứng của cận thị thoái hóa bao gồm kết hợp thuốc và thủ thuật laser được gọi là phương pháp quang động học (photodynamic therapy). Phương pháp này cũng được sử dụng để điều trị thoái hóa điểm vàng. Ngoài ra, một nghiên cứu thí điểm gần đây cho biết một loại thuốc có tên 7-methylxanthine (7-mx) có tác động làm chậm sự kéo dài của trục nhãn cầu ở trẻ từ 8 – 13 tuổi.

2: Triệu chứng và dấu hiệu nhận biết cận thị

  • Trẻ hay nheo mắt, chói mắt, giụi mắt, mỏi mắt do khả năng điều tiết của mắt kém.
  • Trẻ không nhìn rõ mọi vật ở khoảng cách trên 1m.
  • Trẻ dí sát mặt vào cuốn sách trong khi đọc, khó đọc do không nhìn rõ chữ.
  • Trẻ thường phải chép bài của bạn do không nhìn rõ các chữ trên bảng.
  • Trẻ nhức đầu, chảy nước mắt do mỏi mắt.
  • Trẻ làm kém hiệu quả trong các hoạt động liên quan đến thị giác như vẽ hình, tập đọc…

3: Các biện pháp đề phòng bị cận thị ?

Đối với những người cận thị: hạn chế áp lực lên cơ quan thị giác bằng cách giảm thời gian xem ti vi và làm việc với máy tính cũng như đọc sách đến mức tối thiểu, cụ thể:

+ Trẻ dưới 6 tuổi: tiếp xúc dưới 30 phút 1 ngày.

+ Trẻ từ 6 – 14 tuổi: dưới 60 phút 1 ngày.

+ Trẻ trên 14 tuổi: dưới 90 phút trong một ngày.

Ngoài ra cần có thời gian sinh hoạt ngoài trời hàng ngày để mắt được điều chỉnh cho thích hợp với môi trường. Độ chiếu sáng của đèn không không dưới 100w, đèn có chụp để che những khoảng chiếu của ánh sáng. Góc học tập cần đặt gần cửa sổ, tránh ngồi nơi khuất bóng, tư thế ngồi học đúng, kích thước bàn ghế phù hợp, khoảng cách từ mắt đến bàn học:

+ Tiểu học: 25 cm.

+ Trung học cơ sở: 30 cm.

+ Trung học phổ thông và người lớn: 35 cm.

Không nằm, quỳ để học bài, viết bài, không nên đọc khi đi trên ô tô, tàu hỏa, máy bay.

Cân bằng dinh dưỡng mắt cho trẻ bằng cách cung cấp thức ăn có đầy đủ Vitamin: A, E, C và nhóm B. Ngoài ra nên cho trẻ khám mắt định kỳ 6 tháng 1 lần tại BV chuyên khoa mắt. Cuối cùng cần tuân thủ chỉ định của Bác sĩ chuyên khoa về việc đeo kính khi phát hiện cận thị, viễn thị hoặc loạn thị.

4: Phương pháp điều trị bệnh cận thị

Đeo kính gọng: là phương pháp trợ thị đầu tiên, phổ biến nhất và rẻ tiền nhất.

Phẫu thuật cận thị: được áp dụng rộng rãi khoảng 15 đến 20 năm gần đây. Những người tuổi trên 18 đến 22 có thể cân nhắc phẫu thuật.

Phẫu thuật lấy thể thủy tinh và đặt thể thủy tinh nhân tạo hoặc phẫu thuật đặt kính nội nhãn: những người bị cận thị cao khoảng trên 10.00 DS có chỉ định phẫu thuật này

Sử dụng kính tiếp xúc mềm, kính tiếp xúc cứng: là những phương pháp được ứng dụng để trợ thị phổ biến ở các nước tiên tiến.

Các phương pháp kiểm soát sự tiến triển của tật cận thị

Sử dụng kính áp tròng ban đêm chỉnh hình bề mặt giác mạc. Phương pháp này có ưu điểm vượt trội
Hạn chế nhìn gần nhiều và thời gian kéo dài, tư thế ngồi sai. Hạn chế sử dụng thiết bị cầm tay, thiết bị điện tử. Tăng cường hoạt động thể chất, sử dụng ánh sáng tự nhiên.

Năng động hơn trong hoạt động thể chất cho trẻ mắc cận thị trong độ tuổi từ 8 tuổi đến 18 tuổi.

Sử dụng kính gọng hai tròng hoặc kính đa tròng, tra Atropin 0.02% hàng ngày. Các phương pháp này kết quả chưa rõ ràng và đang trong giai đoạn thử nghiệm.

Ngoài ra quý vị có thể lựa chọn những mẫu bàn học thông minh chống cận có khả năng thay đổi kích thước và vị trí ngồi sao cho phù hợp với chiều cao của trẻ, tránh để trẻ phải cúi quá sát, kích thước giữa mặt và bàn đảm bảo khoảng cách tiêu chuẩn.

 

Related posts

No Comments

Give a Reply

Call Now