Bệnh học đường – Những nguyên nhân – Ảnh hưởng và cách khắc phục

Bệnh học đường – Những nguyên nhân – Ảnh hưởng và cách khắc phục

Theo số liệu mới nhất của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, tỷ lệ học sinh bị cận thị là 26,14%; cong vẹo cột sống là 18,9% và gia tăng theo cấp học

Qua tổ chức khảo sát tình trạng mắt học sinh trên 16.000 học sinh tiểu học, THCS, THPT, tỷ lệ học sinh cận thị ở bậc tiểu học là 20%, THCS 30% và cao nhất là bậc THPT chiếm trên 50%. Các yếu tố ảnh hưởng đến mắt của học sinh có nhiều, nhưng hai yếu tố nguy cơ chủ yếu gây cong vẹo cột sống là tư thế ngồi sai và bàn ghế không phù hợp với chiều cao của trẻ, bàn ghế ngồi ngọc có kích thước cố định trong thời gian dài không phù hợp với sự phát triển của trẻ.

1: Bệnh cận thị

Cận thị là căn bệnh mà rất nhiều học sinh hiện nay găp phải, độ tuổi mắc bệnh càng ngày càng giảm, trẻ có nguy cơ bị từ nhỏ do tiếp xúc nhiều với thiết bị điện tử : Tivi, điện thoại, game oline…

Khi trẻ bị cận thị nặng có thể dẫn đến thoái hóa hắc võng mạc trung tâm gây giảm thị lực và có nguy cơ cao gây bong võng mạc, lác mắt, glôcôm …

Nguyên nhân:

  • Môi trường học tập ở trường và gia đình chưa đảm bảo yêu cầu vệ sinh:góc học tập, phòng học không được chiếu sáng tốt; bàn ghế học không đúng tiêu chuẩn vệ sinh; phòng học chật tối thiếu ánh sáng tự nhiên….
  • Tư thế ngồi học không đúng: đầu cúi gần vở, để lệch vở khi viết.
  • Thời gian ngồi học quá dài làm mắt bị mỏi mệt.
  • Xem ti vi, ngồi máy vi tính, chơi điện tử trong nhiều giờ liền, đọc sách truyện chữ nhỏ

Ảnh hưởng:

  • Hạn chế sự phát triển toàn diện của học sinh.
  • Hạn chế các hoạt động thể dục thể thao, nâng cao sức khỏe.
  • Hạn chế lựa chọn ngành nghề trong cuộc sống.
  • Hạn chế một số hoạt động sinh hoạt hàng ngày của học sinh.
  • Hạn chế một phần kết quả học tập do mắt chóng bị mỏi, do nhìn bảng không rõ, viết và đọc chậm.
  • Dễ bị tai nạn trong sinh hoạt và lao động.

Biện pháp phòng tránh

  • Đủ ánh sáng: Bố trí góc học tập phải đủ ánh sáng tự nhiên và ánh sáng nhân tạo với cường độ chiếu sáng 300 – 500Lux.
  • Bàn ghế phải phù hợp với từng chiều cao của cơ thể học sinh. Tốt nhất nên sử dụng bộ bàn học thông minh có khả năng chống gù chống cận.
  • Sử dụng các loại sách, vở, truyện phải được in ấn rõ nét, cỡ chữ phải phù hợp với từng cấp học và được in trên giấy tốt và sáng, chữ phải viết đúng khoảng cách.
  • Ngồi học với tư thế đúng: Tư thế ngồi học phải ngay ngắn thẳng lưng và cổ giúp tránh mệt mỏi và gù vẹo cột sống, khoảng cách tốt nhất giữa mắt và vở cho học sinh là 30 – 40cm; làm việc với máy tính cách 60cm
  • Có thời gian biểu cho học tập và vui chơi giải trí rõ ràng.
  • Chế độ dinh dưỡng hợp lý đầy đủ và cân bằng với rau, củ, quả, thịt, cá.
  • Khám mắt định kì 6 tháng/lần để phát hiện và điều trị tật khúc xạ và các bệnh về mắt kịp thời

– Đối với các con, khi còn nhỏ nên bỏ những thói quen có hại cho mắt như:

+ Không nằm, quỳ để đọc sách hoặc viết bài.

+ Không đọc sách báo, tài liệu khi đang đi trên ô tô, tàu hỏa, máy bay.

+ Khi xem ti vi, video phải ngồi cách xa màn hình tối thiểu 2,5 m, nơi ánh sáng phòng phù hợp. Thời gian xem cần ngắt quãng, không quá 45-60 phút mỗi lần xem.

+ Không tự ý dùng kính đeo mắt không đúng tiêu chuẩn. Khi đeo kình cần tuân thủ hướng dẫn của nhà chuyên môn

2: Bệnh về cột sống.

Vẹo cột sống là tình trạng cột sống bị uốn cong sang bên phải hoặc bên trái theo hình chữ C hay chữ S (thuận hoặc ngược). Cong cột sống là khi cột sống xuất hiện những đoạn cong bất thường theo 2 dạng: Gù (cột sống phần ngực uốn cong quá mức ra phía sau); Ưỡn (cột sống phần thắt lưng uốn cong quá mức ra phía trước).


Nguyên nhân:

  • Tư thế ngồi học không đúng: lệch vai sang trái hoặc sang phải, cúi đầu quá thấp.
  • Học sinh phải ngồi học trong thời gian quá dài trên những bộ bàn ghế không đúng kích thước
  • Học sinh có thói quen mang cặp một bên mà không đeo cặp trên hai vai.
  • Do phải lao động sớm: gánh vác, gặt hái, bế em hoặc mắc phải một số di chứng của bệnh còi xương, suy dinh dưỡng, lao cột sống, bại liệt.

Ảnh hưởng: Bệnh cong vẹo cột sống không phải bệnh nguy hiểm, không gây tác hại nghiêm trọng tức thời, tuy nhiên bệnh sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe thể chất và tâm thần của một thế hệ trong tương lai.

  • Gây lệch trọng tâm cơ thể, làm học sinh ngồi học không được ngay ngắn, gay cản trở cho việc đọc, viết, căng thẳng thị giác và làm trí não kém tập trung dẫn đến ảnh hưởng xấu kết quả học tập.
  • Gây ảnh hưởng đến hoạt động của tim, phổi và sự phát triển của khung xương chậu (đặc biệt đối với em gái sẽ gây ảnh hưởng đến sinh đẻ khi trưởng thành)
  • Cơ thể lệch , bước đi không cân đối, bước đi không đều ảnh hưởng đến thẩm mỹ.

 Biện pháp phòng tránh:

  • Bàn ghế học tập cần có kích thước phù hợp với chiều cao của học sinh đối với từng cấp học khi sử dụng. Hiện trên thị trường có nhiều mẫu bàn học có thể nâng hạ chiều cao một cách linh hoạt , phù hợp với trẻ có độ tuổi từ 6 tới 18 tuổi: Bàn ghế học sinh Igrow, Bàn ghế chống gù Sincaye…
  • Đối với học sinh TH và THCS phải sử dụng cặp sách 2 quaiđể đeo trên vai;
  • Thầy cô giáo và bố mẹ luôn hướng dẫn, nhắc nhở các em ngồi học đúng tư thế;.
  • Lập thời gian biểu cụ thể cho học tập , vui chơi giải trí, lao động, nghỉ ngơi hợp lý ở trường cũng như ở nhà sao cho phù hợp với từng lưa tuổi cho từng cấp học.

Nguồn : Phòng khám Medelab

3: Rối loạn tâm thần

Chứng rối loạn tâm thần ở lứa tuổi học đường thời gian gần đây gây nhiều quan tâm của cả gia đình, nhà trường và xã hội trên hai phương diện về mức độ tăng nhanh và tính chất nghiêm trọng của vấn đề. Theo khảo sát gần đây, 19,5% số học sinh có biểu hiện rối loạn tâm thần (chủ yếu là rối loạn cảm xúc và hành vi) ở lứa tuổi học đường và tỷ lệ này ngày càng tăng, đặc biệt là ở các thành phố lớn nơi trẻ em phải chịu nhiều áp lực trong việc học tập.

Biểu hiện của rối loạn tâm thần ở lứa tuổi học đường ở nhiều mức độ như mất tập trung, căng thẳng, đau đầu chóng mặt, khó kiểm soát hành vi, nặng hơn nữa thì có biểu hiện trầm cảm, thậm chí hoang tưởng tự sát. Nguyên nhân của hiện tượng này có lẽ do khối lượng học tập quá tải, học thêm, bồi dưỡng ngoài giờ liên miên, phân bố chưa hợp lý trong các môn học, phụ huynh kỳ vọng ở con em quá nhiều nên tạo một tâm lý nặng nề cho trẻ, điều kiện vệ sinh, chăm sóc sức khỏe trong học tập nhiều nơi chưa đảm bảo, thời gian học chiếm hết thời gian vui chơi giải trí… Khiến cho các em luôn trong tình trạng làm việc liên tục, đầu óc và cơ thể không có thời gian nghỉ ngơi.

Một số giải pháp

Thay đổi thái độ và hành vi: Trẻ em cần được định hướng, được cung cấp những kiến thức tối thiểu về các loại bệnh học đường và các phòng chống, được tạo điều kiện về mọi mặt để đảm bảo một sức khỏe tốt cả về thể chất và tâm thần.

Môi trường học tập đảm bảo: Chúng ta phải đảm bảo cho môi trường giáo dục, bao gồm cả khối lượng kiến thức, phương pháp tổ chức thực hiện sao cho hiệu quả và cơ sở vật chất đồng bộ, hiện đại, đúng tiêu chuẩn, phù hợp lứa tuổi.

4: Căng thẳng, stress vì học quá nhiều.
Gần đây, tình trạng học sinh bị stress do áp lực học tập ngày càng nhiều và vấn đề là trẻ không được điều trị hoặc điều trị không đúng. Do đó, phụ huynh cần nắm rõ các kiến thức về tâm lý trẻ trong các độ tuổi để can thiệp kịp thời.
Chuyên viên tâm lý Lê Khanh (Phòng Tư vấn tâm lý gia đình & trẻ em TP.HCM) đã có những liệt kê chi tiết về tác động của áp lực lên học sinh trong mọi độ tuổi. Khi bước vào năm học mới, từ các em thiếu nhi cho đến các học sinh cấp 2, 3 đều xem đó là chuyện bình thường, ngoài một vài thay đổi về giờ giấc trong sinh hoạt cùng việc chuẩn bị sách vở, học cụ…
Thế nhưng cũng không ít các em khác cảm thấy lo lắng, từ khó chịu đến căng thẳng khi đi học, nhất là với các em lần đầu đến trường tiểu học hay các lớp đầu cấp 2, 3…
Khi lần đầu đến trường tiểu học, trẻ sẽ phải đối mặt với những điểm khác biệt ở trường mẫu giáo như tuân thủ các yêu cầu về kỷ luật (xếp hàng vào lớp, ngồi yên hằng giờ, muốn làm gì phải giơ tay xin phép…) từ đó trẻ có thể có tình trạng sợ đến trường, vào lớp, khó ngủ, ăn kém hay bỏ ăn… đôi khi có những hành vi tiêu cực như gặm móng tay, mút tay, xoắn tóc và luôn có cảm giác bất an.
Với những em lớn hơn thì sau một thời gian nhập học do kém thích nghi với môi trường mới, hay không biết tổ chức, sắp xếp việc học cho hợp lý, sẽ dẫn đến tình trạng căng thẳng với những dấu hiệu bệnh lý như nhức đầu, mất ngủ, đau bụng không có căn nguyên. Nếu kéo dài các em có thể bị đau bao tử, có tình trạng trầm cảm hoặc trở nên kém tập trung, hay quên…
Trạng thái căng thẳng hay stress nhẹ của các em khi bước vào năm học có thể giảm thiểu hay không phụ thuộc vào việc các em biết điều chỉnh các hoạt động trong ngày và sắp xếp việc học hành, nghỉ ngơi hợp lý.
Với những rối loạn nặng hơn, hay bắt đầu tỏ ra không thích nghi với việc đi học cùng với các dấu hiệu bệnh lý thì cần phải đưa trẻ đến các chuyên gia tâm lý để có những can thiệp kịp thời.

 

 

Bài viết liên quan

No Comments

Give a Reply